Wednesday, March 31, 2010

NHỤC BỒ ĐOÀN 68 (#04): Chuyện đệ huynh kết nghĩa - Tái Côn Lôn trần tình

HỒI 04
CHUYỆN ĐỆ HUYNH KẾT NGHĨA
TÁI CÔN LÔN TRẦN TÌNH

TaiConLon, hình không nhất thiết phải đúng sự thực; Nguồn Somewhere Internet;

Đêm qua còn ở trên giường
Sớm mai Sinh đã trên đường tầm sư
Hành lý vài quyển kinh thư
Tiểu đồng hai đứa theo như hồi nào
Rằng ta tuổi trẻ tài cao
Danh lam thắng cảnh ra vào khoan thai
Tài tử xướng họa lai rai
Giai nhân thì chẳng gặp ai thuận tình

Ngồi buồn uống rượu một mình
Bàn bên có gã thình lình bước sang
Nhoẻn cười khoe chiếc răng vàng
Trên tay ly rượu nhà hàng loại to
Rượu thơm mới chắt từ vò
Xin mời đối ẩm uống cho biết mùi

Sinh đà nghe thấy bùi bùi
Nhận lời uống cạn ly rùi xưng danh
Gã kia uống kiểu thập thành
Uống xong kéo áo lau quanh viền mồm
Rằng tên là Tái Côn Lôn (1)
Phạm vi trăm dặm tiếng đồn vang xa
Dân gian gọi tiếng trộm già
Khiêm cung mà nói chẳng qua lành nghề
Cũng may các hạ chẳng chê
Bữa này xin uống khi về phải say

Sinh ta gõ gõ ngón tay
Nâng ly nhấp ngụm vị cay nồng nồng
Dốc ly uống phát sạch không
Làm Lôn thích chí vỗ mông mà cười
Bao năm lăn lộn với đời
’Ngũ bất thâu’ ấy trăm lời ngợi khen (2)
Một rằng không trộm người quen
Hai rằng không trộm mở then bất phòng
Ba bốn hiếu hỷ không xong
Thứ năm trộm lại thêm vòng làm chi

Tay Sinh rót rượu tràn ly
Uống xong ánh mắt đen sì nhìn Lôn
Gã này uống nốt chỗ tồn
Rằng trông các hạ trí khôn khác thường
Gặp nhau là mến là thương
Chi bằng kết nghĩa trọn đường đệ huynh

Sinh hơi có chút giật mình
Trong đầu suy nghĩ sự tình trước sau
Tiện thò tay bốc miếng rau
Kết giao là chuyện cùng nhau một lòng
Mình đây thích bướm ghẹo ong
Có người này giúp cờ trong bạc ngoài (3)
Ngó qua thì thấy rằng tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần (4)
Suy đi tính lại tần ngần
Hay là mình thử một lần xem sao
Nghĩ xong tỏ vẻ anh hào
Nghĩa khí cao ngất khắc vào trời xanh

Côn Lôn lớn tuổi làm anh
Dạ Sinh vì vậy thôi đành làm em

Rượu ngon càng uống càng thèm
Ly rượu sóng sánh môi mềm ngất ngư
Ngỏ lòng một mối tâm tư
Gái xinh thiên hạ hình như hết rồi
Rằng đời nhan sắc than ôi
Làm sao kiếm được sánh đôi lúc này
Lôn nghe hơi nhíu lông mày
Rằng em gặp thuốc gặp thày rồi nha
Đại phàm thiên hạ phồn hoa
Gái xinh gái ở trong nhà mới xinh
Gái xấu thì cứ rập rình
Tô son trát phấn tạo hình lừa giai
Anh thề anh chẳng nói sai
Nhiều đêm anh thấy chân dài tô hô
Dưới trăng thả dáng lõa lồ
Núi đồi trắng nõn nhấp nhô trập trùng
Một đôi trường túc như nhung (5)
Bao quanh hạ thể một vùng lả lơi

Sinh nghe đến đó ngắt lời
Lòng em sung sướng rã rời rồi anh
Để cho gọn nói cho nhanh
Anh làm một chuyến tác thành cho em
Âu là cái lối cũ mèm
Bao nhiêu gái đẹp muốn đem vầu giường
Trông thằng em nhỏ Lôn thương
Trộm già vẽ lối chỉ đường dê con

Cầm tay nhau hẹn nỉ non
Chia tay tạm biệt rượu còn tây tây


Chú giải:

(1) Côn Lôn là một kỳ sĩ nhân thiên hạ, nổi danh vì đột nhập được vào nhà huyện quan để tư tình với Quyên nữ. Tái Côn Lôn nghĩa có thể làm như Côn Lôn kỳ sĩ nhân hàng ngàn lần. (Thực ra phải đọc là Tài Có Lôn ;))

(2) Ngũ bất thâu: "Gia chủ gặp chuyện buồn không trộm, gặp chuyện vui không trộm, trộm một lần rồi không trộm nữa, không đề phòng trước không thèm trộm, đã quen biết nhau không trộm."

(3) Cờ trong bạc ngoài: Nghĩa rằng người trong cuộc lú lẫn, người ngoài cuộc tinh minh, hay gì? Ý Sinh kết giao chỉ muốn nhờ vả chuyện hồng nhan.

(4) Mượn thơ DuNguyen Kieutruyen. Ý rằng Sinh sợ liên đới khi chơi với đạo chích.

(5) Trường túc: đùi dài; Trích sách tướng nữ cổ: Hồng diện đa dâm thủy, Trường túc bất chi lao, Tiểu yêu tri đại huyệt, Trường mi hộ tố mao.
Dịch nôm: Má đỏ tốn nước bọt, Chân dài thì bổ chọt, Tiểu yêu nằm trong sọt, Lông dài chui qua lọt.

(Hồi sau)
(Mục lục)
(Hồi trước)

----------o0o----------
Tộ-sư-bố thói Cốpbết Hồnnhiên
240x320 Java Phone, AHTT, CSL, ESL, Lai láng, Ngẫn, Trích rút, Nhục Bồ Đoàn 68
----------o0o----------

Monday, March 29, 2010

HANYU - BỞI AN HOÀNG TRUNG TƯỚNG (#6)

Anh cóp lại của Hồng Vàng vàng son phòng khi mất GiàHú. Cũng chẳng xin phép nàng mới tài.

Anh lại đổi lịch bài về thời điểm gốc:
Mar 29, 2010 cho chết cbn đi. Hĩ hĩ.
 Link: http://vn.360plus.yahoo.com/an_hoang_trung_tuong/article?mid=417&page=2
------

Nầu lũ Simacai mần tẹo tiếng Nho rùi Zì còn xuống đường nầu. Zì đang buồn vãi mắm nên hôm nai chơi chữ Nho hiệnđại.

Các cô ghi zòng sau đây vầu lỗ đít Simacai:

按一下上方的文字

Fiên-âm Hán Lừa:
"Án Nhất Hạ Thượng Fương Đích Văn Tự"
Fiên-âm Mandarin: Hỏi thằng Gúc ý.

Zịch nghĩa:
"Bấm chuột vào vănbản fía trên"

Các chữ Nho trong câu:
按: "Án", nghĩa là Bấm/Ấn.
一: "Nhất", nghĩa là Một (như trong từ Zuynhất).
下: "Hạ", nghĩa là Xuống/Zưới (như trong từ Hạliu, Hạtầng).
上: "Thượng", nghĩa là Lên/Trên (như trong từ Thượngliu, Thượngtầng).
方: "Fương", nghĩa là Fương/Fía (như trong từ Songfương, Đafương).
的: "Đích", nghĩa là Đúng/Chính/Cái (như trong từ Đíchthị).
文: "Văn", nghĩa là Văn (như trong từ Vănbản, Vănhọc).
字: "Tự", nghĩa là Chữ (như trong từ Mẫutự).

Chú-ý:

Thànhngữ:
"
按一下" ("Án Nhất Hạ") nghĩa là "Click Chuột" hehe. Cái nài mới à nha.

Các cụm từ:
上方: "Thượng Fương", nghĩa là "Fía Trên", "Above".
的文字
: "Đích Văn Tự", nghĩa là "Vănbản Đó", "The Text".
--------



Nầu mần tí chữ Nho.

Chủđề hôm nai là các Bộ Thủ chữ Hán.

1- Các cô biết mẹ rùi, Bộ Thủ (部首) là cái gốc để bọn jàhói xâyzựng các con chữ tiếng Hán, và cũng là cái để chúng ta nhìn vầu mà tra tựđiển.

Tỉnhư chữ Ma (媽, nghĩa là Mẹ/Má) có bộ-thủ là Nữ (
女, nghĩa là Gái). Ta nhìn vầu chữ Ma thấy bộ Nữ thì biết ngay chữ nài thế đéo nầu cũng zính đến liềnbà, zù chưa biết nghĩa của nó.

Và ta có thể nói, "chữ Ma thuộc bộ Nữ". Chữ Nữ được biên ở fía trái của chữ Ma. Nằm cạnh, bên fải chữ Nữ đó, là chữ Mã (馬, nghĩa là Ông Ngựa), chữ Mã nài để thểhiện âm của chữ Ma mà thôi (Mã và Ma đọc gần jống nhau), chứ không fải Bộ của nó.
-----------

2- Chữ Hán có trên 200 Bộ Thủ, từ 1 nét đến 17 nét.

Hôm nai các cô học các Bộ Thủ 1 nét. Gồm 6 chữ chính sau:

一: "Nhất" (Nhất/Một).
丨
: "Cổn" (Nét-sổ).
丶
: "Chủ" (Nét-chấm).
丿: "Triệt" (Nét-fẩy).
乙: "Ất" (Ất, một trong 10 Can).
亅: "Quyết" (Nét-sổ-móc).

--------------

3- Jờ các cô khảosát bộ-thủ đơn jảnnhất, là bộ Nhất (一).

- Có một chữ thuộc bộ Nhất mà không kèm thêm nét biên nầu nữa, đó chính là chữ Nhất (一), nghĩa là Một/One, chỉ gồm một nhát vạch ngang.

Ta nói, chữ Nhất thuộc bộ Nhất và thêm 0 Nét.

- Vízụ một số chữ thuộc bộ Nhất zưng bổxung thêm 1 Nét nữa:

丁: "Đinh" (Jai, như trong từ Cùng-đinh, hoặc Đinh Bộ Lĩnh).
七: "Thất" (Bẩy).


- Vízụ một số chữ thuộc bộ Nhất zưng bổxung thêm 2 Nét nữa:

万: "Vạn" (Vạn, tức 10,000).
丈:
"Trượng" (Trượng, tức 10 thước).
三: "Tam" (Ba).
上: " Thượng" (Lên/Trên).
下: "Hạ" (Xuống/Zưới).

Đạikhái thế, mời các cô tự gúc và học tiếp.
-------------


----------------o0o----------------
Tộ-sư-bố thói Cốpbết Hồnnhiên 
----------------o0o----------------
240x320 Java Phone, AHTT, CSL, ESL, Lai láng, Ngẫn, Trích rút

Sunday, March 28, 2010

HANYU - BỞI AN HOÀNG TRUNG TƯỚNG (#5)

Anh cóp lại của Hồng Vàng vàng son phòng khi mất GiàHú. Cũng chẳng xin phép nàng mới tài.

Anh lại đổi lịch bài về thời điểm gốc:
Mar 18, 2010 cho chết cbn đi. Hĩ hĩ.
 Link:http://vn.360plus.yahoo.com/an_hoang_trung_tuong/article?mid=417&page=7

-------------


Thôi bi jờ làm tí tiếng tôngzật cộinguồn nầu. Tiếp Tam Tự Kinh nha các cô:

稻粱菽,麥黍稷。
此六穀,人所食。
馬牛羊,雞犬豕。
此六畜,人所飼。

Jản-thể:

稻粱菽,麦黍稷。
此六谷,人所食。
马牛羊,鸡犬豕。
此六畜,人所饲。

Fiên-âm và zịch nghĩa:

ÐẠO LƯƠNG THỤC ("Gạo, Lương, Đậu")
MẠCH THỬ TẮC ("Lúa-tẻ, Lúa-nếp, Lúa-thơm")
THỬ LỤC CỐC ("Là sáu hạt")
NHÂN SỞ THỰC ("Người để chén")
MÃ NGƯU DƯƠNG ("Ngựa, Bò, Dê")
KÊ KHUYỂN THỈ ("Gà, Chó, Heo")
THỬ LỤC SÚC ("Là sáu vật")
NHÂN SỞ TỰ ("Người để nuôi")

Vài chữ cần chú tâm:

粱: "Lương", nghĩa là Caolương đấy, tức Lúa-mạch.
牛: "Ngưu", vửa là Bò vửa là Trâu.所: "Sở", nghĩa là Sở/Nơi/Chốn, zưng ở đây zùng với nghĩa Có-thể cho nó chất-nghệ.


Đoạn Kinh nài nêu ra 6 loại ngũcốc (chínhxác là lụccốc hehe, zưng Lừa quen gọi ngũcốc rùi) mà Tôngzật ta hay chén từ thuở cửi truồng, và 6 loại jasúc (không có jacầm) mà Tôngzật ta nuôi cũng từ thuở thuở.

Các cô chắc đã thấy, trong Tam Tự Kinh nêu tuyền zững kháiniệm cơbản nhất của Ông Người ever, và vì thế số từngữ học được trong Tam Tự Kinh rất là có játrị.

Các cô có để ý, rầng chữ
羊 ("Zương", tức Ông Zê) có hai cái sừng nhunhú và hàm râu xồmxoàm không?

Còn chữ
犬 ("Khuyển", tức Ông Chó) thì đéo hiểu tại sâu lại là chữ 大 ("Đại", tức là Nhớn) thêm một cái tai bebé nhở. Đúng ra fải là Nhân (人) thêm tai chứ?

Hai chữ Khuyển và Zương đều là Bộ Thủ.

-----------

Qua vài bài chữ Nho sơkhai vửa qua, các cô có thể thấy:- Tiếng Tầu ngữfáp đơnjản như tiếng Lừa thôi. Chủyếu zùng thànhngữ, điểntích.., chứ không có ngữfáp dynamic kiểu Khoaitây.

-
Tiếng Tầu cũng không có quytắc trựcquan nầu fânbiệt zanhtừ vs độngtừ vs tínhtừ.., như tiếng Lừa. Cho nên fải zựa vầu ngữcảnh mà đoán biết một từ tiếng Tầu thuộc từ-loại nầu.

Nói chung là Lừa học tiếng Tầu thì rất zễ, ngại nhất là hay quên mặt chữ. Nên fải thườngxuyên đọc nha các cô.

Thôi Zì đi ngủ mẹ nó đây lũ Simacai kia.

Zì đang chán đời lắm các cô ạ, địt mẹ đúng là cái kiếp Simacai. Chửa vui được mấy nỗi đã buồn ơi là buồn.

----------

----------------o0o----------------
Tộ-sư-bố thói Cốpbết Hồnnhiên 
----------------o0o----------------
240x320 Java Phone, AHTT, CSL, ESL, Lai láng, Ngẫn, Trích rút