Thursday, March 25, 2010

NHỤC BỒ ĐOÀN 68 (#03.2): Lão đạo sĩ kén rể - Sách Xuân Cung luyện vợ

HỒI 03 (tiếp)


Xuân Cung Đồ aka khajuraho aka 春宫图;
Nguồn Somewhere Internet;

Tình duyên sắp bởi mệnh trời
Hai bên cùng nguyện ở đời với nhau
Cỗ bàn tiệc cưới sắc màu
Hồng điều hoa chúc cùng nhau động phòng
Ngọc băng tuyết phủ hình dong
Cả người là những đường cong mỹ miều
Mồm thì liến thoắng rằng yêu
Tay thì nắn bóp là điều dĩ nhiên
Sinh ta hùng hục như điên
Đàng nào cũng đã mất tiền mua mâm (8)

Nhưng mà có nỗi khổ tâm
Cô vợ mới cưới hành dâm vụng về
Chồng bày thế lạ thì chê
Hai chân khép nép một bề nằm im
Trời ơi hạnh phúc khó tìm
Đời anh không nhẽ lại chìm vậy sao

Đêm nằm suy nghĩ thế nào
Sớm mai ra phố bước vào tiệm tranh
Bạc kia Sinh xuất một thành
Sách kia một cuốn nổi danh thập toàn
'Xuân cung đồ' chuyện hợp hoan
Ba mươi sáu thế tả tràn cung mây
Tranh vẽ các kiểu dạn dày
Khổ thơ tả rõ mặt mày chân tơ

Giả như trong lúc tình cờ
Cho nàng xem sách từng tờ giở đi
Trang đầu Hán tự cung di (9)
Trang sau mới có hiền phi cởi trần
Cùng một nam tử toàn thân
Bên hòn non bộ lần mân giao tình
Quý Hương quay mặt giật mình
Trái tim đỏ đập thình thình nhũ hoa
Nét ngài ửng vệt cung thoa
Mồ hôi lấm tấm làm nhòa mắt ai

Rõ là hoạ sĩ thực tài
Bút bay mực múa cả ngoài cả trong
Họa đồ 'Túng điệp cầm phong'
Nữ nhân ngồi gọn trong lòng người nam
Ngọc hành biết việc phải làm
Nó luồn nó lách nó ngoàm ngược lên
'Giáo phong nhưỡng mật' trang bên
Nam nhân chuyển thế nằm trên dập dình
Mà sao nét vẽ thần tình
Ngọc hành trong ấy cứ rình chòi ra

Quý Hương đôi mắt ngà ngà
Cựa mình mà bảo hay là thôi đi
Sinh đà nhân thể tình si
Cầm tay chỉ chỗ sờ bi sờ hòn
Âm cung dàn dụa nước non
Dương cụ phát tiết màu son hồng hồng
Tiến vào một khoảng lặng không
Tiếp theo dền dứ đôi mông nhịp nhàng
Hai chân đã dạng hai hàng
Vợ chồng hành sự chẳng màng riêng tư
Âm tinh bao lấy củ từ
Ngọc hành nhấn nhá nát nhừ nhị hoa

Trải đời chính hiệu đàn bà
Quý Hương ân ái thực là hăng say
Hết đêm sang cả ban ngày
Ba mươi sáu cách ăn ngay cho giòn
Nhẽ trời thương phận gái non
Bù cho thiếu thốn lúc còn lẻ loi

Ai ngờ phụ mẫu săm soi
Nhăm nhăm tìm lỗi có dòi trong dưa (10)
Tức mình đôi trẻ ngủ trưa
Ngứa tai nghe tiếng mây mưa dập dồn
Chỉ tay mắng chó, mày khôn
Mèo kia mõm nhọn tai chồn, mày to (11)

Sinh bèn tính kế liệu lo
Xin riêng nhạc phụ để cho rộng đường
Rèn tài thi hội thi hương
Ở xa có một cái trường luyện thi
Thưa rằng cứ để con đi
Muốn thông kinh sử sá gì gian truân
Lão Thiết Phi lại tần ngần
Nghĩ ngợi một tí lại gần như xuôi

Thế là uyên thúy rẽ đôi
Thế là chèo bẻo chìa vôi hai đàng
Mấy đêm bịn rịn trấn an
Dốc lòng thêm sức để nàng nhớ thương

Chú giải:

(8) Lấy ý từ câu 'Mất tiền mua mâm, bà đâm cho thủng' của Bần Nông, em họ Thần Nông.

(9) Nguyên tác: đại tự Hán cung di chiếu, tức hình ảnh lưu lại đời cổ. Quý Hương tưởng sách cổ, lưu các ảnh cổ nên không nghi.

(10) Trích ý từ câu “Không ưa thì dưa có dòi”. Dòi là ấu trùng của côn trùng, thường sống trong nơi nhiều đạm ít muối, nên trông có vẻ rất không sạch sẽ. Dưa muối không bao giờ có dòi, nếu có thì là chuyện bịa không thể tin. Ý ở đây là cha mẹ vợ ghét con rể tìm cách hục hặc.

(11) Chửi chó mắng mèo. Thái độ của các bậc trưởng thượng hủ nho khi không ưa ai. A con chó này khôn thật chẳng như ai kia. A con mèo này giỏi lắm ăn vụng như chớp chủ nào tớ nấy.
Một dị bản là 'Chỉ chó mắng mèo', lườm rau gắp thịt hay gì?

(Hồi sau)
(Mục lục)
(Hồi trước)

----------o0o----------
Tộ-sư-bố thói Cốpbết Hồnnhiên
240x320 Java Phone, AHTT, CSL, ESL, Lai láng, Ngẫn, Trích rút, Nhục Bồ Đoàn 68
----------o0o----------(Hồi trước)

Wednesday, March 24, 2010

HANYU - BỞI AN HOÀNG TRUNG TƯỚNG (#3)

Anh cóp lại của Hồng Vàng vàng son phòng khi mất GiàHú. Cũng chẳng xin phép nàng mới tài.

Anh lại đổi lịch bài về thời điểm gốc: Mar 24, 2010 cho chết cbn đi. Hĩ hĩ.

Link: http://vn.360plus.yahoo.com/an_hoang_trung_tuong/article?mid=417&page=15


Nầu trưa rùi mời các cô học thêm tí Nho nầu.

Tiếp một đoạn Tam Tự Kinh nài:

曰水火,木金土。
此五行,本乎數。
曰仁義,禮智信。
此五常,不容紊。

Fiên-âm và zịch nghĩa:

VIẾT THỦY HỎA ("Nói Nước, Lửa")
MỘC KIM THỔ ("Gỗ, Vàng, Đất")
THỬ NGŨ HÀNH ("Ấy là Ngũ-hành")
BẢN HỒ SỐ ("Căn-bản của Số")
VIẾT NHÂN NGHĨA ("Nói Nhân, Nghĩa")
LỄ TRÍ TÍN ("Lễ, Trí, Tín")
THỬ NGŨ THƯỜNG ("Ấy là Ngũ-thường")
BẤT DUNG VĂN ("Đéo được nhầm")

Đoạn Kinh nầy thểhiện nềntảng của Nhânsinhquan và Vũtrụquan trong triếthọc Tầu cổđại.

Trong đó có nói đến Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, là thuộc về Vũtrụquan, và Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín, là thuộc về Nhânsinhquan.

Học theo Tam Tự Kinh rất chóng nhớ, vì nó liênquan đến các vướnđề triếtlý. Chứ học theo Tam Thiên Tự thì chán ớn, vì ngoài vầnvè ra nó chẳng đọng lại đéo jì.

Ở bài nầy các cô chú ý có chữ 紊 (vặnvẹo, rối-tung), fiên-âm Hán Lừa là Vặn, zưng Lừa vưỡn đọc là Văn chắc cho nó vần. Zì fải nói quả nầy tránh mấy cô vầu thắcmắc hehe.

Ngoài ra các cô nên để ý, chữ Nhân (仁) trong bài là Lòng-nhân, khác mới chữ Nhân các cô thường thấy, với nghĩa là Ông Người (人).

Chữ
Lòng-nhân (仁) đó được ghép bởi một chữ Nhân (人) biên kiểu făngtêzi, và hai nét ngang hehe kiểu chữ Nhị.

Nét chữ Nhân đó được gọi là Bộ Nhân, một trong nhiều Bộ Thủ, được coi là các nhóm chữ, chiên zùng để tra tựđiển.

Chữ Hán có khoảng hơn hai trăm bộ thủ, và chữ nầu thì cũng có gốc là một
bộ thủ hehe.

Các cô nhớ mấy chữ nài nữa nhế:

金木水火土: Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ
五行山: Ngũ Hành Sơn
-------------

Các cô có thấy chữ Hỏa (火) trông jống ông người (人) chạy hớthải hay không? Hehe đúng là tượng-hình nhở.

Còn các cô jà-hói có nhớ thời Thiên Đàng Lừa rất thịnhhành quả bút nủi-tiếng tên là 金星 không?
-----------


----------------o0o----------------
Tộ-sư-bố thói Cốpbết Hồnnhiên 
----------------o0o----------------
240x320 Java Phone, AHTT, CSL, ESL, Lai láng, Ngẫn, Trích rút

Monday, March 22, 2010

HANYU - BỞI AN HOÀNG TRUNG TƯỚNG (#2)

Anh cóp lại của Hồng Vàng vàng son phòng khi mất GiàHú. Cũng chẳng xin phép nàng mới tài.

Anh lại đổi lịch bài về thời điểm gốc: Mar 22, 2010 cho chết cbn đi. Hĩ hĩ.

Link: http://vn.360plus.yahoo.com/an_hoang_trung_tuong/article?mid=393&page=4
Nầu mời các cô tiếptục nghiênkíu chữ Nho đặng tìm về cộinguồn tôngzật nầu.

1. Tiếp một đoạn trong Tam Tự Kinh nhế. Các cô cứ coi fần fiên-âm chữ Hán của đoạn nầy thì các cô thấy tiếng Lừa đến 99% jống tiếng Tầu hehe. Em Thi Còi nếu không nhìn thấy chữ Tầu thì đaolốt Firefox về mà xài nhế, Zì đoán máy em đang xài IE nên có sự loạn về fông chữ thôi.

Đoạn nầy nói về sự Học.

養不教,父之過。
教不嚴,師之惰。
子不學,非所宜。
幼不學,老何為。
玉不琢,不成器。
人不學,不知義。

Fiên-âm Hán Lừa như sau:

DƯỠNG BẤT GIÁO ("Nuôi mà đéo jáo-zục")
PHỤ CHI QUÁ ("Là thằng pa hãm-lìn")
GIÁO BẤT NGHIÊM ("Jáo-zục mà đéo nghiêm")
SƯ CHI ĐỌA ("Là thằng thầy zốt-nát")
TỬ BẤT HỌC ("Con-cái mà đéo học")
PHI SỞ NGHI ("Thì đéo có lễ-nghi")
ẤU BẤT HỌC ("Bé-tí mà đéo học")
LÃO HÀ VI ("Jà-hói biết làm gì")
NGỌC BẤT TRÁC ("Ngọc mà đéo mài-dũa")
BẤT THÀNH KHÍ ("Đéo thể thành đồ-chơi")
NHÂN BẤT HỌC ("Ông người mà đéo học")
BẤT TRI LÝ ("Đéo biết nghĩa-lý buồi")



An Hoang Trung Tuong

20:06 22-03-2011
Nuôi mà đéo jáo-zục
Là thằng pa hãm-lìn
Jáo-zục mà đéo nghiêm
Là thằng thầy zốt-nát
Con-cái mà đéo học
Thì đéo có lễ-nghi
Bé-tí mà đéo học
Jà-hói biết làm gì
Ngọc mà đéo mài-dũa
Đéo thể thành đồ-chơi
Ông người mà đéo học
Đéo biết nghĩa-lý buồi

-----------

2. Trong đoạn Kinh trên, chắc chỉ zuynhất có chữ Trác (琢), nghĩa là Mài Zũa là các cô không biết. Còn lại thì các chữ khác đều trong tiếng Lừa tất hehe.

Để nghe tiếng Mandarin âmsắc thế nầu, mời các cô cốpbết đoạn Kinh chữ Tầu vầu máy zịch của thằng Gúc. Hehe nghe kỹ thì chả khác đéo jì tiếng Lừa, như nài nài:

Yǎng bù jiào, fǔ zhī guò.
Jiào bù yán, shī zhī duò.
Zi bù xué, fēi suǒ yi.
Yòu bù xué, lǎo hé wèi.
Yù bù zuó, bùchéngqì.
Rén bù xué, bùzhī yì.

-----------

3- Như vậy các cô thấy, hehe tiếng Lừa gần như hệt tiếng Tầu, zuy có điều tiếng Tầu mạchlạc gọngàng hơn nhiều lần. Đéo cần zững Thì Là Mà rườmrà như tiếng Lừa.

Tuynhiên Zì cũng cố zịch cho nó thật
gọngàng các cô coi thử nha:

Nuôi không zậy
Lỗi thằng pa
Zậy không nghiêm
Tội thằng thầy
Trẻ không học
Thiếu lễ-nghi
Bé không học
Nhớn làm jì?
Ngọc đéo zũa
Đéo thành "hàng"
Người đéo học
Đéo biết lồn

Hehe cũng súctích fết đấy chứ.
-----------

4- Hehe qua bài nầy, các cô gắng nhớ một ít chữ Tầu làm vốn:

不: "Bất" (Đéo)
, như trong từ "Bấtcập"
父: "Fụ" (Pa), như trong từ "Fụmẫu"
子: "Tử" (Con), như trong từ "Côngtử"
師: "Sư" (Thầy), như trong từ "Jasư"
幼: "Ấu" (Nhỏ), như trong từ "Ấutrĩ"
老: "Lão" (Jàhói), như trong từ "Fụlão"
學: "Học", như trong từ "Họcvị"
知: "Tri" (Biết), như trong từ "Trithức"
教:
"Jáo" (Zậy), như trong từ "Jáozục"

Ghép 2 chữ Jáo & Sư thì thành Jáo sư 教師 hehe
---------------

@cô Jà Đều & các cô

Địt mẹ học chữ Tầu thì học đọc học biên lại quantrọng hơn học nói hehe.

Zì sang Tầu vưỡn fải thuê fiênzịch cho nó lành, vì Zì mà nói thì tuyền Cảo Nì Ma mới Tỉu Nà Ma (tiếng Cantonese hehe) chúng nó vả cho tòe loa luôn.

Nếu biết được mặt chữ, là các cô có thể coi được biển chỉ đường ở các fốxá hoặc bến tầu/xe, đéo sợ lạc khi sang chơi bên Tầu.

Ngoài ra, các cô còn đọc được sách cổ, hoặc chữ ở các bia cổ ngay trên Xứ Lừa mọi của các cô.
-------------

Nếu biết chữ Tầu, khi sang Hàn, Nhựt.. thì các cô có thể đọc được khối thứ. Đặcbiệt các zitích thì tuyền biên tiếng Tầu y như cốđô Huế của các cô hehe. Chưhầu cả mà.-------------

Ui địt mẹ vui đéo chịu được. Liệu các cô có thích học chữ Nho nữa hay thôi?
--------------

Hehe các cô yêu quá đi lũ Simacai kia.

Câu 人不學,不知義 là Zì cốp từ cuốn Tam Tự Kinh ra, nên đéo có chiện nó sai được hàhà. Nếu có sai thì sách sai chứ Zì đéo sai hẽhẽ.

Còn cái câu fiên-âm Nhân Bất Học Bất Tri Lý thì Lừa nó nói cả ngàn đời nay rùi, có thấy đứa nầu nói
Nhân Bất Học Bất Tri Nghĩa đâu.

Ý các cô sao jờ?
-------------
Để kếtthúc buổi học trưa nai, mời các cô học tiếp một đoạn Tam Tự Kinh:

曰春夏,曰秋冬。
此四時,運不窮。
曰南北,曰西東。
此四方,應乎中。

Fiên-âm và zịch nghĩa:

VIẾT XUÂN HẠ ("Nói Xuân, Hạ")
VIẾT THU ÐÔNG ("Nói Thu, Đông")
THỬ TỨ THỜI ("Ấy là bốn mùa")
VẬN BẤT CÙNG ("Chiển-vận không cùng")
VIẾT NAM BẮC ("Nói Nam, Bắc")
VIẾT TÂY ÐÔNG ("Nói Tây, Đông")
THỬ TỨ PHƯƠNG ("Ấy là bốn phương")
ỨNG HỒ TRUNG ("Ứng mới trung-tâm")

Có một số chữ các cô cần nhớ:

此: "Thử", nghĩa là Nầy, Ấy-là (This, This is)
南: "Nam"北: "Bắc"西: "Tây"
東: "Đông"
中: "Trung"

Chẳnghạn trong các tên địazanh sau:


越南: Việt Nam.
中國: Trung Quốc (Jảnthể: 中国), nghĩalà "Quốcja Trungtâm".
河北: Hà Bắc, nghĩa là "Fía Bắc Con Sông".
河內: Hà Nội
, nghĩa là "Fía Trong Con Sông".

北京: Bắc Kinh, nghĩa là "Kinhđô Fía Bắc".
廣西: Quảng Tây (Jảnthể: 广西), nghĩa là "Miền Tây Rộng Nhớn".
廣東: Quảng Đông (
Jảnthể: 广东), nghĩa là "Miền Đông Rộng Nhớn".

An Hoang Trung Tuong

13:04 23-03-2011
Liu ý chữ Viết (曰, nghĩa là Nói/Viết) trông rất jống chữ Nhật (日, nghĩa là Mặt Jời) zưng đéo fải là một đâu nha.
-----

----------------o0o----------------
Tộ-sư-bố thói Cốpbết Hồnnhiên 
----------------o0o----------------
240x320 Java Phone, AHTT, CSL, ESL, Lai láng, Ngẫn, Trích rút